4
Ta khẽ thở phào.
Không uổng công ta đứng đây hứng gió lạnh lâu đến vậy.
Diêm Tùy.
Quả nhiên chàng tới rồi.
Sắc mặt Văn Nhị lập tức trắng bệch.
Nàng ta chẳng dám ngẩng đầu, vội vàng đứng dậy hành lễ:
“Diêm… Diêm thống lĩnh.”
Ánh mắt Diêm Tùy lướt nhẹ qua nàng ta.
Cuối cùng dừng lại trên mặt ta.
Hốc mắt ta có chút nóng lên, liền vội vàng đứng dậy, mượn động tác cúi người hành lễ để che giấu.
Nhưng vẫn không thoát khỏi ánh mắt của chàng.
Diêm Tùy khẽ nhếch môi, cười như không cười:
“Bổn thống lĩnh đáng sợ đến thế sao? Khiến nhị tiểu thư Văn gia sợ đến phát khóc?”
Không phải đâu.
Ta khẽ lắc đầu.
Chỉ là vừa rồi chợt nhớ đến cảnh chàng ngã vào lòng ta.
Máu… máu nhiều đến nỗi thấm ướt cả tà váy.
Thế mà chàng vẫn khẩn cầu ta.
Cầu ta… nhớ chàng thêm một chút.
Diêm Tùy nhìn ta một hồi, rồi dời mắt đi.
“Vừa rồi tam tiểu thư nói, bổn thống lĩnh rất vui, có thưởng.”
Văn Nhị: “…A?”
“Hôm nay tâm tình bổn tọa không tốt, đang nghĩ xem nên trút giận lên ai, thì tam tiểu thư đã nghĩ giùm rồi.”
Hắn khẽ cười, giọng nói âm u như rắn độc rít qua kẽ lá:
“Người đâu, ban cho tam tiểu thư một bát cơm thiu, một chậu quần áo bẩn. Ăn xong thì giặt sạch quần áo rồi đi bộ về Văn phủ.”
Văn Nhị trừng lớn hai mắt, không thể tin nổi:
“Ngươi… ngươi dám… ngươi có biết, ta sắp thành Tề vương phi rồi không!”
“Đã gả rồi sao?” Diêm Tùy hừ lạnh, “Chưa gả mà đã chó cậy thế người.”
“Thêm một chậu nữa, chọn cái nào dơ nhất.”
“Ngươi… ưm—”
Văn Nhị bị người bịt miệng kéo đi.
Dưới tàng cây, chỉ còn lại ta và Diêm Tùy.
Hắn nhàn nhạt nhìn ta:
“Nhị tiểu thư Văn gia muốn gả ta?”
“Phải.”
Hắn lại không nói gì.
Hai tay khoanh trước ngực, nửa người tựa vào thân cây, chẳng rõ đang nghĩ điều gì.
À không, thật ra ta biết.
Sau này chàng từng nói với ta.
Chàng lúc ấy đang nghĩ—nên để ta gả cho chàng, hay thay ta tìm một hôn sự tốt hơn.
Nghĩ rất lâu, cuối cùng vẫn để ta tự mình lựa chọn.
Diêm Tùy ngẩng đầu. Hàng mi chàng rất dài, đổ bóng mờ dưới mắt, khiến ánh nhìn thêm vài phần thâm trầm.
Thế nhưng, chính một người u tối như thế, lại dùng giọng điệu mà có lẽ là dịu dàng nhất của chàng, hỏi ta một câu—
mà ở kiếp trước, đến tận khi nghe vẫn khiến ta rùng mình:
“Còn nàng thì sao, Văn Linh?”
“Nàng có nguyện… gả cho ta không?”
5
Ta đã đưa ra cùng một đáp án như kiếp trước.
“Nguyện ý.”
Khác chăng là—
Kiếp trước ta nói ra hai chữ ấy vì sợ hãi, vì cân nhắc thiệt hơn.
Còn kiếp này.
Là thật tâm.
Ta nhìn chàng, lại khẽ lặp lại một lần nữa, giọng mềm như nước:
“Ta nguyện ý, Diêm Tùy.”
Chàng khẽ sững lại.
Theo bản năng buông tay, đứng thẳng người.
Diêm Tùy sinh ra cao ráo, dáng người tuấn dật thẳng tắp, một đôi mắt phượng như điểm mực, lạnh lẽo lại sắc bén, khi cúi mắt nhìn người thì mang theo sức ép khó cưỡng.
Kiếp trước sau khi gả cho chàng, ta cũng từng vì ân oán hai nhà cùng những lời đồn ở Kinh thành mà sợ chàng. Đối diện chàng luôn thận trọng, cúi mình, một câu nói phải lặp trong bụng ba lần.
Chàng nhận ra nỗi sợ ấy, liền rất ít xuất hiện trước mặt ta.
Chỉ sai nha hoàn truyền lời.
“Phu nhân, đây là trang sức mới ra của Thiên Kim Các, thống lĩnh bảo người mang đến để phu nhân chọn xem có thích món nào không.”
“Phu nhân, ngoài thành đào đã nở. Thống lĩnh nhớ phu nhân ưa đào, nên sai người quét dọn trang viên ngoài thành từ sớm. Khi nào phu nhân muốn đi thưởng hoa, cứ bảo nô tỳ chuẩn bị xe.”
“Phu nhân……”
Dần dần, ta không còn sợ chàng nữa.
Thỉnh thoảng gặp trong phủ, còn dừng lại cùng chàng hàn huyên đôi câu.
Nhưng Diêm Tùy luôn bận rộn vội vã.
Ta không biết chàng thật sự có việc nhiều, hay chỉ là không muốn nói chuyện với ta, bèn cũng thôi hy vọng, chỉ mỗi lần gặp gỡ, từ xa khẽ cười một cái.
Tựa như mọi thứ lại trở về điểm khởi đầu.
Bước ngoặt đến vào mùa đông năm ấy.
Diêm Tùy không biết vì sao chọc giận thiên tử, bị phạt ba mươi trượng.
Bất kể thị tùng truyền lời có nhẹ nhàng thế nào,
Ta cũng không sao dằn được nỗi lo trong lòng.
Lúc ấy mới giật mình nhận ra—
Ta đã để tâm đến chàng.
Giống như khi ta phong hàn phát sốt, chàng cả đêm canh bên ngoài.
Ta cũng không màng thị tùng can gián, nhất định lên xe đến cửa cung chờ.
Gió tuyết mịt mùng, Diêm Tùy mặt trắng như giấy, mà vẫn ngẩng cao đầu bước ra từ Vọng Tiên Môn, áo đen như mực, ánh mắt lạnh buốt khiến người ta không dám tới gần.
Chàng xưa nay đều như thế.
Không muốn để ai nhìn thấy dáng vẻ chật vật của mình.
Nhưng sát khí như sương tuyết ấy, khi ta bước xuống xe, đã tan đi.
Ta tiến lại gần, giương ô che qua đầu chàng, có chút ngượng ngùng khẽ cười:
“…Phu quân, ta tới đón chàng về nhà.”
……
Hình ảnh đôi mắt phượng ấy khẽ gợn sóng trong ký ức,
dần dần chồng khít lên ánh nhìn trước mặt ta lúc này.
Nhưng rất nhanh, những gợn sóng ấy bị thiếu niên cố giấu cảm xúc che lấp.
Chàng dời ánh mắt, giọng bình tĩnh:
“Danh tiếng của ta không tốt.”
“Ta biết.”
“Ở Thượng Kinh, phần nhiều lời đồn về ta đều là thật.”
“Ta biết.”
Chàng lại không nói gì nữa.
Đúng lúc ấy, một trận gió thổi qua, đưa cánh hoa rơi xuống tóc ta. Ta đang định đưa tay gỡ xuống, đã có người nhanh hơn, ngẩng lên, chỉ thấy Diêm Tùy thu cánh hoa vào trong lòng bàn tay.
“Thích cái gì?” chàng bỗng hỏi.
Ta ngẩn người.
Giọng chàng có chút không kiên nhẫn: “Ngọc quý? Lụa là? Kim ngân khí? Hay cái gì?”
Ta hiểu ra, khẽ đáp: “Đại nhạn.”
Chàng hồ nghi liếc ta một cái: “Nàng nói cái ‘đại nhạn’ này… chẳng lẽ là thứ ngọc quý hiếm khắc thành?”
“Nếu thống lĩnh săn không được, ngọc khắc cũng được.”
“Ta săn không được?” chàng khẽ cười khẩy, “Được thôi, Văn Linh, nàng cứ đợi cả sân đầy nhạn sống đuổi theo mình nhé.”
Diêm Tùy xoay người bỏ đi.
Đi được mấy bước, chàng chợt dừng lại.
Giàn dây leo phủ bóng, vừa khéo che khuất đôi mày mắt, không nhìn rõ thần sắc.
“Cho nàng ba ngày suy nghĩ. Nếu hối hận, cứ sai người tới Trấn phủ ty báo, ta sẽ tìm cho nàng một mối hôn sự khác.”
Chàng ngập ngừng, gượng gạo bổ sung: “Không thua kém đường muội nàng.”
Ta nhìn theo bóng lưng chàng, một cơn chua xót dâng lên trong ngực, lại bị ta nén xuống thật sâu.
Kiếp này, chúng ta nhất định sẽ có một kết cục thật tốt.
6
Cuối cùng, người đưa Văn Nhị về vẫn là ta.
Vốn dĩ thuộc hạ của Diêm Tùy định áp giải nàng ta từ phủ Trưởng công chúa về tận Văn phủ, nhưng ta biết, việc ấy chẳng những sẽ khiến Văn Nhị mất hết thể diện, mà còn đẩy Diêm Tùy thêm một lần nữa lên đầu ngọn sóng.
Sự ngang ngược càn rỡ, hành động tùy tiện vô pháp của chàng—nếu đặt cạnh Văn Nhị, một nữ tử yếu đuối trong mắt thiên hạ, còn là trắc phi tương lai của Tề vương—lại càng dễ khắc sâu vào lòng người.
Ta không thể để chuyện như thế xảy ra.
Danh bị hủy, xương bị tiêu, dù chàng đã đứng bên mép vực thẳm, ta cũng phải kéo chàng trở lại.
Nhưng Văn Nhị lại chẳng lấy đó làm ơn.
Trên đường về, nàng ta lặng thinh lạ thường. Ta cứ tưởng sau bài học này, ít nhất cũng phải thu liễm vài hôm.
Nào ngờ, vừa thay xong xiêm y đi dự yến, người hầu bên cạnh tổ phụ đã đến truyền lời, bảo ta đến chính đường.
Còn chưa bước vào cửa, tiếng nức nở của Văn Nhị đã vọng ra ngoài qua màn cửa sổ:
“…Cũng chẳng biết tỷ tỷ rốt cuộc đã nói gì với Diêm thống lĩnh, mà thống lĩnh liền muốn phạt muội. Không chỉ bắt muội ăn, ăn… còn sai muội giặt y phục cho mã phu nữa! Hu hu hu… tổ phụ ơi, cháu là cháu gái người đấy… chuyện này mà truyền ra ngoài, còn thể diện gì mà sống ở Kinh thành…”
Trước khi ra cửa, nàng ta còn ăn vận kỹ lưỡng, tươi tắn kiều diễm. Lúc này vẫn là bộ dạng ấy, nhưng búi tóc rối tung phân nửa, vạt áo tím nhuốm bùn đất lẫn tàn thức ăn, trông hết sức thảm thương.
Đại bá mẫu ôm con gái vào lòng, đau lòng không để đâu cho hết:
“Lão gia! Linh nhi còn chưa gả đi, đã ỷ thế Diêm Tùy mà ức hiếp muội muội. Nếu thật sự gả vào nhà họ Diêm rồi, liệu còn xem người, còn xem Văn thị ra gì nữa không?”
Câu ấy của đại bá mẫu nói thật khéo.
Bà ta hiểu rõ, tổ phụ xưa nay chẳng mấy để tâm đến hàng cháu gái. Nhưng nếu có kẻ dám thách thức quyền uy trưởng tộc của ông, thì lại là chuyện khác.
Vậy nên, ta vừa bước vào còn chưa kịp hành lễ—
Tổ phụ đã đập bàn quát lớn:
“Quỳ xuống!”
Ta khựng lại, thu tay về, không hành lễ nữa:
“Dám hỏi tổ phụ, cháu gái sai ở đâu?”
Thấy ta chẳng những không quỳ, còn dám hỏi ngược, lửa giận trong mắt tổ phụ càng bốc cao:
“Cấu kết người ngoài, khi dễ muội muội, thế còn không sai?”
Ta mỉm cười, bình tĩnh:
“Tổ phụ nói đúng, cháu gái sai rồi.”
Sắc mặt tổ phụ dịu đi đôi chút, Văn Nhị cũng đang nép trong lòng đại bá mẫu, vừa thút thít vừa lén đưa mắt liếc ta, nở một nụ cười đầy thách thức.
Ta không nhìn nàng ta, chỉ tiếp tục nói:
“Nhưng cháu cũng muốn hỏi tổ phụ, đường muội bịa đặt vu cáo, có gọi là sai không? Đại bá mẫu ly gián ly gián, có gọi là sai không? Tổ phụ không xét trắng đen, lại càng không hỏi đúng sai, như thế… có phải sai không?”
Chính đường lập tức rơi vào im lặng.
Ngay cả tiếng nức nở của Văn Nhị cũng im bặt, kinh ngạc nhìn ta.
Chắc nàng ta đang nghĩ, dù tổ phụ có lạnh nhạt với cháu gái, thì cũng là người duy nhất trong Văn thị ta còn có thể dựa vào.
Vậy mà ta lại dám cãi lời ông, chẳng lẽ điên rồi?
Sắc mặt tổ phụ lúc đỏ lúc xanh, giơ tay ném mạnh chén trà xuống chân ta:
“Văn Linh! Ngươi quá phận rồi!”
Ta không né cũng chẳng lùi.
Chỉ nhìn ông, ánh mắt đầy châm chọc.
Kiếp trước, đại bá mẫu cùng Văn Nhị chèn ép ta, đại bá phụ đẩy ta ra gánh lấy cơn giận của Diêm Tùy.
Chỉ có tổ phụ là từ đầu đến cuối vẫn lạnh nhạt với ta, nhưng cũng chưa từng thiên vị đại bá mẫu hay Văn Nhị. Khi đại bá mẫu làm quá, ông còn ra mặt răn đe. Ngày ta xuất giá, chính ông đích thân dặn đại bá mẫu phải đối đãi công bằng với ta và Văn Nhị, không được cắt xén sính lễ, càng không được tráo vật.
Lúc ấy ta cô đơn không nơi nương tựa, lại mang nỗi sợ vì phải gả cho Diêm Tùy.
Liền đem chút thiện ý ấy xem như cọng rơm cứu mạng cuối cùng, đem cả hy vọng máu mủ gửi gắm lên người ông.
Lại quên mất—
Có đôi khi, im lặng cũng là đồng lõa.
Tổ phụ làm vậy, chẳng qua là vì một phần sính lễ của một đứa cháu gái chẳng thể ảnh hưởng đến lợi ích của Văn thị. Nếu thiên vị quá đáng, lại dễ mang tiếng, tổn hại danh tiếng thanh liêm của ông.
Nhưng khi thực sự chạm đến lợi ích, ta—chỉ là một món đồ tùy ý có thể vứt bỏ.
Tiếc rằng, đạo lý này…
Mãi đến khi Diêm Tùy chết đi, tổ phụ đem ta dâng cho kẻ kia,
ta mới hiểu ra.
